Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2019

TÀI LIỆU THUYẾT MINH VỀ PHONG THỦY KINH THÀNH HUẾ

Phong thủy kinh thành Huế là một trong những chủ đề rất hay được nhiều bạn quan tâm và tìm hiểu. Việc chọn đất định đô xét về mặt phong thủy, là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên sự ổn định và hưng thịnh cho cả triều đại và quốc gia. Kiến trúc kinh thành Huế chính là một trong những mẫu mực của việc áp dụng thuật phong thủy. Hôm nay Nẵng chia sẻ các bạn bài viết về chủ đề này.
Tổng thể kinh thành Huế được đặt trong khung cảnh rộng, núi cao thế đẹp, minh đường lớn và có sông uốn khúc rộng. Núi Ngự Bình cao hơn 100m, đỉnh bằng phẳng, dáng đẹp, tọa lạc giữa vùng đồng bằng. Hai bên là cồn Hến và cồn Dã Viên ở vào thế tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ – là một thế đất lý tưởng theo tiêu chuẩn của phong thủy. Minh đường thủy tụ là khúc sông Hương rộng nằm dài giữa hai cồn cong như một cánh cung mang lại sinh khí cho đô thành. Chính vua Gia Long đã đích thân nghiên cứu tìm hướng tốt và cuộc đất thuận tiện xây dựng kinh thành Huế. 
Đáp ứng lòng người trước khi định đô
Dân cư của 8 làng phải di dời đi nơi khác gồm: Phú Xuân, Vạn Xuân, Diễn Phái, An Vân, An Hòa, An Mỹ, Thế Lại, An Bửu, trong đó đất làng Phú Xuân hầu hết đều nằm gọn trong phạm vi kinh thành sẽ xây. Vì thế, vua Gia Long đã cấp 30 mẫu ruộng, 3 khoảng đất để dựng nhà và 1000 quan để giúp dân Phú Xuân – 7 làng còn lại theo tài liệu của Tả tham tri Bộ binh Võ Liêm mỗi nhà “được cấp 3 lạng và mỗi ngôi mộ dời đi được cấp 2 lạng”. Nhà vua nghĩ rằng việc đền bù nhà cửa, ruộng vườn cần phải chu đáo, giữ yên lòng dân để bắt tay xây dựng trên tổng diện tích 520ha và chu vi 9.889m. Huỳnh Đình Kết nhận định đây là đợt giải tỏa lớn, triệt để và khẩn trương, tiến hành trong vòng 2 năm, riêng phần mộ vắng chủ quy tập về nghĩa trang Ba Đòn có đến 10.000 ngôi.
Di dời xong, Gia Long chọn ngày tốt vào tháng tư âm lịch, nhầm 9.5.1804 dương lịch để bắt tay xây dựng vòng trong thành (vòng trong của Đại Nội) với tổng chu vi 4 cạnh là 307 trượng, 3 thước 4 tấc (1.229m), thành bằng gạch cao 9 thước 2 tấc (3m68) và dày 1 thước 8 tấc (0m72) – theo Võ Liêm.
Theo quan niệm “Thánh nhân Nam diện nhi thính thiên hạ” (Thiên tử phải quay mặt về hướng Nam để cai trị thiên hạ) nhưng đồng thời phải tận dụng được thế đất đẹp nên kinh thành và các công trình trong đó được bố trí đối xứng qua trục dũng đạo quay mặt hơi chếch về hướng Ðông – Nam một góc nhỏ nhưng vẫn giữ được tư tưởng chính của thuyết phong thủy. Ðây là cách sáng tạo và linh hoạt của người quy hoạch trong việc vận dụng thuyết phong thủy.
Vì sao vua Gia Long lại quyết định chọn hướng như thế? Nguyễn Đăng Khoa đề cập đến trong Kỷ yếu Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam, số 7 1991 rằng, những công trình kiến trúc của kinh thành Huế được tiến hành theo một hệ thống các quy tắc hết sức nghiêm ngặt của các hình thế núi sông, long mạch “mặt bằng và độ cao thấp của địa hình được người xưa quan niệm đó là văn của đất, có cao, thấp, là có sông, suối, đầm, núi, tạo ra những nhịp điệu riêng của từng vùng – những nhịp điệu lớn chung của nhiều vùng đất lớn nhỏ tạo ra những đại cuộc đất”. Cụ thể hơn, Trần Đức Anh Sơn qua tài liệu về tư tưởng quy hoạch kinh thành Huế thời Gia Long giới thiệu trên tập Cố đô Huế xưa và nay do Hội Khoa học lịc sử Thừa Thiên – Huế và NXB Thuận Hóa ấn hành 2005, đã cho biết nội dung cuộc trao đổi với một người trong hoàng tộc uyên thâm về dịch học, lý số, phong thủy là học giả Vĩnh Cao theo 4 ý chính, nguyên văn:
1. Kinh đô, theo quan niệm phong thủy ngày xưa đều hướng về Nam nhưng ngay tại vùng Thừa Thiên, mạch núi Trường Sơn, đặc biệt là quần sơn kề cận kinh đô cho đến dãy Bạch Mã đều chạy theo hướng Tây bắc – Đông nam. Dựa vào thế đất ấy, kinh thành nhìn về hướng Đông Nam là tốt nhất.
2. Theo thuật phong thủy thì bất cứ một ngôi nhà hay cung điện gì thì ở phía trước gọi là chu tước (chim sẻ đỏ) thuộc hướng Nam, hành hỏa. Phía trái (từ ngoài nhìn vào) gọi là bạch hổ (hổ trắng) thuộc hướng Tây, hành kim. Phía phải gọi là thanh long (rồng xanh) thuộc hướng Đông, hành mộc. Phía sau gọi là huyền vũ (rùa đen) thuộc hướng Bắc, hành thủy. Đặt kinh thành dựa theo hướng thiên nhiên, dùng ngũ hành mà sinh khắc chế hóa để sửa đổi, tạo thế quân bình, rồi dùng ngũ hành mà tạo lục thân để đoán vị và quy hoạch, bố tri cung điện.
3. Phong thủy cũng quan niệm rằng: phía Tây thuộc về chủ; phía Đông thuộc về thê thiếp, bạn bè ti bộc, vật giá, châu báu, kho đụn, vật loại… tức là những thứ mà chủ sai khiến, sử dụng; phía sau thuộc về tử tôn, môn sinh, trung thần, lương tướng. Từ đó, việc bố trí các cung điện, dinh thự… trong Kinh thành, Hoàng thành và Tử cấm thành cũng dựa vào nguyên tắc này mà phân bổ chức năng.
4. Kinh thành Huế xây dựng ở vùng đất có nước phủ bốn bề, theo phong thủy là nơi tụ thủy, đất phát tài. Nhưng phía Tây kinh thành lại có khí núi xung sát, sông Hương uốn khúc vì thế hành kim rất vượng. Điều này sẽ có hại cho phía Đông, chủ hành mộc (kim khắc mộc). Mộc yếu sẽ dẫn đến sự hạn chế về của cải, dân chúng, thương mại…, kim động sẽ gây hại cho dương trạch nên dễ sinh tật bệnh, tổn hại gia đại. Vì thế phải xây chúa miếu ở phía Tây để trấn. Đó là lý do ra đời Văn Miếu, chùa Thiên Mụ ở phía Tây kinh thành Huế.
Mặt khác, để tạo được phong thủy tốt, các nhà quy hoạch không chỉ xem hướng công trình mà cần xem xét ảnh hưởng của bố trí nội thất, các bộ phận và kế cấu trong công trình như chiều dài, rộng, cao, các cột, cửa… Ví dụ: Các bộ phận của Ngọ Môn đều dựa vào những con số theo nguyên tắc của dịch học như số 5, số 9, số 100.
Năm lối đi vào Ngọ Môn tựơng trưng cho Ngũ Hành, trong đó lối vua đi thuộc hành Thổ, màu vàng. Chính bộ mái của lầu Ngũ Phụng biểu hiện con số 5 và 9 trong hào Cửu Ngũ ở Kinh Dịch, ứng với mạng thiên tử. Một trăm cột là tổng của các con số Hà Ðồ (55) và Lạc Thư (45)… Các con số này ta lại gặp ở sân Ðại Triều Nghi với 9 bậc cấp ở phần sân dưới và 5 bậc cấp ở phần sân trên.
Trên mỗi mái của điện Thái Hòa đều đựơc đắp nổi 9 con rồng trong các tư thế khác nhau và trong nội thất cũng tương tự.
Vận dụng dịch lý và thuật phong thủy bên bờ sông Hương
Bốn điều do học giả Vĩnh Cao lưu ý trên đây, theo nhận định của Trần Đức Anh Sơn đều xuất phát từ sự vận dụng dịch lý và thuật phong thủy vào địa hình cụ thể của Huế. Trước hết, hướng của kinh thành Huế quay mặt về Đông nam là do địa hình chi phối, vì nếu quay về hướng chính Nam như thường thấy Huế sẽ “lập với con sông Hương chảy theo hướng Tây nam – Đông bắc, ngang qua kinh thành một góc ước khoảng 45 độ, các yếu tố phong thủy như Minh đường, Thanh long, Bạch hổ… sẽ không còn giá trị. Trong khi đó, quay mặt về hướng Đông nam, kinh thành Huế sẽ có con sông Hương làm yếu tố Minh đường và hưởng được tính chất tốt của hai hòn đảo nhỏ tức Cồn Hến và Dã Viên. Thật vậy, theo GS. Nguyễn Thiệu Lâu, đảo Thanh Long và đảo Bạch Hổ cùng quay đầu về kinh thành để các luồng âm và dương thổi qua bảo vệ”.
Nói rõ hơn, Nguyễn Đăng Khoa qua tài liệu đã dẫn, nhận xét: “Sông Hương theo cách nhìn địa lý cổ, là một dòng sông chảy ngược từ phía Nam lên phía Bắc. Theo quan niệm trong Kinh dịch thì gốc của thủy phải ở phía Bắc và chảy về Nam (khởi từ Khảm và tụ về Ly). Tất nhiên, ở Huế, dòng chảy của sông Hương do địa hình quy định, phía Nam sông Hương là vùng đồi núi cao, hợp lưu của hai nhánh sông Tả và Hữu trạch. Hai dòng nước này hợp lại ở thượng nguồn sông Hương, giữa 3 khu núi cao là Kim Phụng, Thiên Thọ và núi Vưng. Nhìn rộng ra thì cả khu vực đồi núi này bắt nguồn từ Trường Sơn, tạt ngang ra biển, tạo nên một đại cuộc đất là Hoành Long.
Dòng sông Hương trong lặng tỏa rộng về phía Bắc ra cảng Thuận An. Dòng nước uốn lượn nhiều lần qua đồi Vọng Cảnh, chảy về phía Nguyệt Biều, rồi lật trở lại chảy qua mặt thành. Theo sách Địa đạo diễn ca của Tả Ao thì long mạch uốn lượn gấp khúc càng nhiều thì càng chứng tỏ đất có nhiểu sinh khí. Mặt đất nhược dần về phía kinh thành tạo ra một vài thế đất kết tụ gọi là Thủy Hử (phần đất được sông đổi hướng chảy ôm lấy tạo thành). Những loại mạch sơn cước như vậy khi xuống thấp thấy hiền hòa hơn, chính là nơi tạo ra những huyệt địa kết phát. Vua Gia Long đã chọn được khu vực tốt cho việc xây thành, lập kinh đô. Thành có án, có tả thanh long, hữa bạch hổ triều củng, có “thủy đáo điện tiền” và đoạn sông trước thành đồng thời đóng vai trò minh đường cho thành”.
Đến đây, thiết tưởng chúng ta cần tham khảo thêm tài liệu của một học giả uy tín người Pháp qua cuốn Văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng Việt Nam dưới nhãn quan học giả L.Cadiere, bản dịch của Đỗ Trinh Huệ, tài liệu này đưa ra giả thuyết vua Gia Long “khi bắt đầu xây dựng Hoàng thành và Tử cấm thành ngày 9.5.1804, ngày “Kỷ Vị” thì vào ngày 1.5.1803, ngày “Ất Vị”, ông ta đã phân định La thành, ngày “Quý Vị” 28.5.1805, nhà vua cho dựng lên thành lũy, ban đầu bằng đất rồi dần dần bằng gạch. Bằng những việc làm trên, có lẽ Gia Long đã hết sức củng cố thêm những phòng thủ ma thuật thiên nhiên mà tiên chúa Ngãi Vương đã dùng tới…Các cung điện của kinh thành đều có ghi rõ ràn các can chi, ngày khởi công xây dựng. Các bảng ghi ngày tháng xây dựng đều có ghi ngày tốt giờ tốt.
Hẳn rằng, Gia Long khi cho xây dựng đều cho tuân thủ các tập tục này: họ chọn ngày tốt và ngày hôm đó họ cũng thực hiện một thao tác quan trọng bậc nhất, đó là việc thượng lương. Trước hôm đó, họ cho chuẩn bị kỹ lưỡng: ban đất, chuẩn bị nền móng, trụ cột, bào đẽo các cột kèo…. Cũng như ở Tây phương, người ta tổ chức long trọng lễ đặt viên đá đầu tiên, nhưng ngày hôm đó không chính xác là ngày khởi công. Vì thế nên hiểu ý nghĩa của ngày tháng được nêu trong văn bản về các việc xây dựng kinh thành Huế”. 
Về vị trí và phong thủy của kinh thành Huế, các sử quan triều Nguyễn đã nhận xét: “Kinh sư là nơi miền núi miền biển đều hợp về, đứng giữa miền Nam miền Bắc, đất đai cao ráo, non sông phẳng lặng; đường thủy thì có cửa Thuận An, cửa Tư Hiền sâu hiểm, đường bộ thì có Hoành Sơn, ải Hải Vân ngăn chận; sông lớn giữ phía trước, núi cao giữ phía sau, rồng cuốn hổ ngồi, hình thể vững chãi, ấy là do trời đất xếp đặt, thật là thượng đô của nhà vua”.
Phong thủy của Thủy đạo – “hệ xương nước” điều hòa phong thủy cho Kinh thành Huế
Trong cảnh quan thì yếu tố Thủy (mặt nước sông, hồ, ao) và Thủy đạo (mạng lưới đường thủy gồm các sông, hồ, ao nối với nhau) là thành tố không thể thiếu trong bố cục cảnh quan ở các khu di tích Huế. Ngoài ý nghĩa về mặt triết lý phong thuỷ thì nó còn đóng vai trò quan trọng trong điều tiết nước, cải tạo đất đai, điều hoà môi trường sinh thái xung quanh… được xem như “hệ xương nước” ở Kinh thành Huế.
Theo TS. Lê Công Sơn, Trưởng Phòng Cảnh quan Môi trường, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, mạng lưới Sông ngòi dưới thời Nguyễn được quy hoạch rất hoàn chỉnh. Hệ thống Sông ngòi bao quanh bốn mặt của Kinh thành, gồm sông Hương ở phía Nam, sông An Hoà ở phía Bắc, sông Kẻ Vạn ở bên Tây, sông Đông Ba ở bên Đông. Đây là hệ thống sông vừa tạo yếu tố phong thuỷ “Tứ thuỷ triều quy”, vừa làm nhiệm vụ bảo vệ thành và tạo nên hệ thống cấp thoát nước, hệ thống giao thông dường thuỷ rất thuận lợi.
“Các di tích cung đình triều Nguyễn đều được xây dựng kề cận sông, suối gắn liền với hệ sông Hương. Sông Hương được xem là xương sống, là trục kiến trúc chính của kinh đô Huế, tất cả mọi sự quy hoạch và xây dựng của đô thị Huế suốt từ mấy trăm năm trở lại đây đều dựa trên “trục nước” đặc biệt này” – TS. Sơn chia sẻ.
Bên trong Kinh thành có hệ thống Ngự Hà, vốn là dòng cũ của sông Kim Long được cải tạo lại và đào dài thêm để dẫn nước xuyên qua Kinh thành. Ngự Hà đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc lưu thông nước khu vực nội thành và cũng là tuyến giao thông trọng yếu tại các khu vực này.
Dười thời Nguyễn cũng tồn tại rất nhiều ao hồ, có thể là hồ tự nhiên hoặc những đoạn cũ của sông Kim Long, Bạch Yến còn lại sau khi xây dựng Kinh thành. Sông nhân tạo được xây dựng chủ yếu ở các khu vực cung điện, vườn ngự, đàn miếu, lăng tẩm… Các ao hồ này phần lớn đều liên thông được với nhau làm nhiệm vụ là bể lọc sinh thái cực kỳ hiệu quả giúp làm sạch môi trường nước trước khi thải ra sông.
Công tác chăm sóc tu bổ hệ thống sông ngòi, ao hồ dưới thời Nguyễn được quan tâm đặc biệt và giao cho Doanh Thiện Ty và Nha Hộ Thành thuộc bộ Công đảm nhận, thường xuyên nạo vét bùn đất, gia cố bờ kè hồ, khơi thông cống rãnh, trồng các loại cây thuỷ sinh dưới nước và các loại cây ven hồ, thả các loại cá cảnh.
Tất cả các ao hồ trong các khu vực cung điện, hành cung… đều có trồng sen, súng. Sen thì nơi nào cũng trồng sen trắng, súng thì có nhiều loại. Nhiều thắng cảnh nổi tiếng thời bấy giờ đều gắn liền với vẻ đẹp của các loài hoa này, trong đó nổi bật nhất là hồ Tịnh Tâm. Cây ven hồ thì chủ yếu là các loại tre, trúc, liêu, lộc vừng.
Đến Huế hiện nay, khi đi dạo quanh ở bờ bắc sông Hương nơi tập trung phần lớn hệ thống kiến trúc của di tích Huế thì sự hiện hữu nhiều các sông, ao, hồ – là dấu tích của vua để lại nhằm điều hòa khí hậu cho một vùng. Những thế hệ sau này tại cố đô lớn lên đều cảm nhận được điều đó, khi bờ bắc rất xanh mát và dễ chịu bởi hệ thống Thủy đạo cực kỳ quý giá này. Hiện nay, cùng với đà phát triển của đô thị, sự lấn chiếm, san lấp trái phép của người dân đã làm cho diện tích các ao hồ di tích Huế bị giảm thiểu một cách nghiêm trọng, nhiều đoạn lòng hào bị san lấp nghiêm trọng, bờ hào bị người dân lán chiếm làm nhà ở.
Theo số liệu thống kê của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, trong khu vực Kinh thành có hơn 50 hồ nay đã bị lấp mất gần 1/5, số còn lại (trừ hồ trong khu vực Hoàng Thành) đang bị lấn chiếm, hoặc trở thành nơi xả rác, chất thải của người dân. Các loại động thực vật thuỷ sinh đặc trưng cho hệ thống ao hồ này gần như không còn hoặc còn rất ít, diện tích mặt nước hoang phế, cây cỏ dại, rong bèo mọc tràn lan gây mất mỹ quan cho khu vực. Nguồn nước đều trong trạng thái ô nhiễm ảnh hưởng đến môi trường môi sinh của khu vực.
ST.

THUYẾT MINH VỀ HỒ HOÀN KIẾM DÀNH CHO HDV

Chào mừng các bạn đã đến với điểm thăm quan Hồ Hoàn Kiếm – Đền Ngọc Sơn !
Tôi xin tự giới thiệu, tên tôi là …………….., thuyết minh viên tại điểm. Hôm nay, tôi rất vinh dự được là người đồng hành cùng các bạn trong suốt hành trình
« Hà Nội xưa và nay ».
Thưa các bạn ! Hà Nội – thủ đô xinh đẹp của chúng ta từ lâu đã trở thành đề tài quen thuộc trong thơ ca :
« Hà Nội có Hồ Gươm
Nước xanh như pha mực
Bên hồ ngọn Tháp Bút
Viết thơ lên trời xanh »
Nhắc đến Hà Nội, chúng ta không thể không nhắc đến Hồ Gươm với làn nước xanh êm dịu, mát lành như một tấm gương xanh biếc lung linh phản chiếu giữa lòng thành phố. Nơi đây là Long mạch của Thăng Long, là không gian thiêng, niềm tự hào truyền thống đất nước của người dân Hà Nội nói riêng và người dân cả nước nói chung.
Thưa các bạn, để hành trình của chúng ta diễn ra tốt đẹp, xin các bạn hãy lưu ý giữ gìn vệ sinh môi trường, không dẫm lên cỏ và có phong thái nghiêm trang trong khu thờ tự. Chúng ta sẽ tham quan lần lượt Hồ Hoàn Kiếm và Đền Ngọc Sơn. Các bạn sẽ có 30 phút để thăm quan tự do. Vì vậy, xin các bạn hãy lưu ý đúng 11h chúng ta có mặt tại đây để lên xe ra về, Cuối cùng, thay mặt ban quản lý khu di tích, tôi xin chúc các bạn có một chuyến đi bổ ích và lý thú !
Thưa các bạn, nơi chúng ta đang đứng có thể nhìn bao quát hồ, ngắm tháp Rùa, đền Ngọc Sơn và những điểm nổi bật quanh bờ hồ.
Toàn bộ diện tích của hồ Gươm vào khoảng trên 12 ha, dài 700m. Bao quanh hồ là các phố Lê Thái Tổ ở phía tây, phố Đinh Tiên Hoàng phía đông-bắc, phố Hàng Khay phía nam.
Thực ra tên gọi Hồ Gươm mới có khoảng một thế kỷ nay. Trước đó tên phổ biến là hồ Hoàn Kiếm. Còn trước đó nữa Hồ còn có nhiều tên gọi khác nhau. Thủa xa xưa do hồ có màu nước quanh năm xanh nên còn có tên là hồ Lục Thủy (nghĩa là Nước Xanh). Chuyện kể rằng khi vua Lê Thái Tổ khởi binh chống quân Minh xâm lược, Vua có bắt được một thanh gươm, vũ khí đó theo vua suốt cuộc trường trinh mười năm và cuối cùng Vua đánh đuổi được giặc, giành lại nền độc lập. Đóng đô ở Hà Nội khi đó gọi là Thăng Long, một hôm vua dong thuyền đi chơi trên hồ Lục Thủy thì có rùa vàng nổi lên, vua tuốt gươm chỉ vào rùa thì rùa liền ngậm cây gươm mà lặn xuống nước. Nghĩ rằng đó là khi trước Trời cho mượn gươm để dẹp giặc, nay giặc tan thì sai rùa thần đến đòi lại gươm trả lại cho Trời. Từ đó vua đổi tên hồ thành hồ Hoàn Kiếm tức hồ Trả Gươm mà ngày nay chúng ta gọi tắt là hồ Gươm. Phải chăng truyền thuyết trả gươm đó muốn nói lên khát vọng hòa bình của cả dân tộc ViệtNam. Khi dẹp xong giặc thì gác vũ khí lại để lo sản xuất làm ăn, vì một nên hòa bình lâu dài. Như đứng trên trụ cao, tượng đài vua Lê đội mũ bình thiên chỉ gươm xuống tuyên bố: “Dân tộc ta sẽ không đúc, rèn vũ khí nữa, chỉ dành công sức tạo nên cuộc sống, nhân danh trăm họ, Trẫm xin hoàn lại thanh gươm chiến thắng”.
Truyền thuyết còn có một ý nghĩa sâu xa nữa, theo dân gian, thanh gươm là biểu tượng của Lửa. nhúng gươm xuống nước là biểu thị của nghi lễ hòa hợp nước lửa. Vâng thưa quý khách, có lẽ chưa ở nơi đâu như mảnh đất này lại được xây dựng trên huyền thoại và truyền thuyết hòa quện suốt chiều dài lịch sử. Từ lúc vua Lý Thái Tổ thấy rồng bay lên khi đậu thuyền ở chân thành Đại La, và đến khi Lê Thái Tổ giữ nước thành công, chuyện trả gươm như gạch nối xứng đáng nhất để tạo nên nét đối xứng tuyệt diệu – Dương: Rồng bay. Âm: Rùa lặn! theo giáo sư Trần Quốc Vượng, bản sắc của Thăng Long – Đại Việt là tổng hòa những giá trị hư và thực, thực mà hư. Huyền mà thực, thực mà huyền!
Thưa các bạn, hồ Gươm được gọi phổ biến với cái tên Hoàn Kiếm từ đó, nhưng cũng có lúc hồ có tên là Vọng, chia hai phần tả-hữu. Theo sử sách, hồ Gươm xa xưa rộng mênh mông, truyền thuyết hồ Gươm có kể tiếp rằng dù sao Vua cũng muốn tìm ra rùa Vàng nên sai quân lính đắp đập ngăn hồ Lục Thủy thành hai nửa, ban đầu cho tát nước từ bên này sang bên kia không tìm thấy rùa, lại tát ngược lại, vẫn không thấy rùa bèn cho là rùa Thần. Sau đó cái đập được giữ lại, nửa hồ phía bắc được gọi là hồ Tả Vọng, phần còn lại phía nam gọi là Hữu Vọng, sau này phần hồ Hữu Vọng bị Tây lấp, hồ Gươm giờ là một phần Tả Vọng. Hồ sau này thời chúa Trịnh còn được dùng làm chỗ tập luyện thủy quân nên còn gọi là hồ Thủy Quân.
Ngày nay hồ Gươm xanh tươi quanh năm với hàng cây được trồng quanh bờ hồ, đã có thi sỹ ví hồ Gươm như sóng mắt biếc và hàng cây xanh như hàng mi của hồ Gươm- hàng mi của đôi mắt người thiếu nữ. Ai đã từng một lần ngắm hồ từ trên cao vào đầu hạ sẽ không khỏi thảng thốt trước bức tranh đầy màu sắc và nên thơ của những cây bằng lăng tím rạng rỡ xen giữa những hàng phượng cháy đỏ rực, những cơm nguội chín vàng. Mùa thu, hồ Hoàn Kiếm không chỉ là một thắng cảnh đẹp với những rặng liễu rủ bên bờ mà còn là những tàng cây ngả xuống vòng tay ôm lấy mặt nước hồ biếc xanh màu ngọc lấp lánh nắng vàng.
Chắc các bạn đang ngắm nhìn tháp rùa ở phía xa giữa hồ? Vâng, thưa các bạn! Tháp Rùa đã từ lâu trở thành biểu tượng thân thiết của thủ đô Hà Nội, mặc dù tháp chỉ được xây vào nửa cuối thế kỷ 19. Gọi là tháp Rùa vì tháp được xây trên đảo rùa, là gò đất nhỏ nổi lên giữa hồ làm nơi rùa hồ Gươm thường lên phơi nắng hay đẻ trứng, gò đất này các cụ vẫn gọi nó là Quy Sơn tuy chỉ cao hơn mặt nước hồ 60cm (vì theo thuật phong thủy “ cao một tấc thì cũng là một ngọn núi”). Về sự tích xuất hiện tháp Rùa cũng rất lý thú, truyền thuyết kể lại rằng, trên đảo rùa có huyệt quý, nếu đem hài cốt song thân tang vào đó thì con cái đời đời vinh hiển. Năm 1884, Pháp đã làm chủ Hà Nội. Một tên tay sai của thực dân là Bá Kim xin được xây tháp trên gò rùa và lén đặt hài cốt cha mẹ mình vào đó, nhưng sự việc không thành nhưng đã hứa với mọi người là xây tháp nên hắn đành ngậm bò hòn làm ngọt xây nốt tháp rùa. Để thưởng công cho Bá Kim, thực dân Pháp đặt tên tháp là tháp Bá Kim, nhưng nhân dân Thủ đô vẫn gọi là tháp Rùa. Tuy truyền thuyết Bá Kim xây tháp rùa để tang hài cốt cha mẹ chỉ là truyền thuyết dân gian, được lưu truyền và phần nào đó tạo nên tính thiêng liêng, ly kì của tháp Rùa!
Hơi xa một chút nhưng chắc quý khách cũng có thể thấy, tháp rùa được xây theo hình chữ nhật, có ba tầng và một đỉnh.
Tầng một xây trên móng cao 80cm, tầng này hình chữ nhật, mỗi mặt tháp đều có những ô cửa hình vòm, mặt chiều dài có 3 cửa, mặt chiểu rộng có 2 cửa, tổng cộng bên ngoài có 10 cửa. Bên trong tháp tầng 1 còn được phân ra làm ba gian và có 4 cửa thông với nhau. Vậy tổng cộng tầng một có 14 cửa.
Tầng hai cũng tương tự nhưng diện tích nhỏ hơn.
Tầng ba nhỏ hơn nữa, chỉ có 1 cửa hình tròn ở mặt phía Đông.
Tầng đỉnh chỉ như một vọng lâu, vuông vức. trên tường mặt phía Đông có ba chữ Quy Sơn Tháp tức Tháp Núi Rùa.
Như vậy, Tháp Rùa tuổi đã dư một thế kỷ, dù lịch sử không có gì đáng kể, cũng đã là mtj bộ phận hữu cơ cảu hồ Gươm, là một phần của tâm hồn Hà Nội.
Thưa các bạn, ngoài Quy Sơn có Tháp Rùa, hồ Gươm còn có một núi nữa đó là Ngọc Sơn, nói đến Hồ Gươm, nói đến Tháp Rùa thì không thể không nhắc đến Đền Ngọc Sơn. Vâng, thưa các bạn, các bạn có thể dễ dàng nhận ra rất gần bên trái trước mặt của chúng ta là hai chữ Ngọc Sơn được viết sơn màu đỏ trên tấm bình phong của Đền quay mặt phía chúng ta. Cũng thật khó khi đứng xa mà miêu tả quần thể kiến trúc vừa có ý nghĩa sâu xa, vừa có cấu tạo đẹp đẽ này! Tôi xin được giới thiệu đôi nét nổi bật nhất về quần thể đền Ngọc Sơn
Đền Ngọc Sơn tọa lạc trên đảo Ngọc, giữa sóng hồ. đảo có tên là Ngọc vì theo truyền thuyết có tiên xuống tắm. sau này được gọi là Ngọc Sơn vào thời Trần. Ở đây vốn có ngôi đền thờ những liệt sỹ hy sinh trong kháng chiến chống Nguyên Mông. Đền lâu ngày tự đổ. Đến thời Lê Chiêu Thống, có nhà nho tên là Tín Trai xây ngôi chùa đặt tên là chùa Ngọc Sơn. Sau này thời Nguyễn, năm vua Thiệu Trị thứ ba chùa được nhường cho một hội từ thiện đổi làm đền Tam Thánh thờ Văn Xương Đế Quân và gọi là Đền Ngọc Sơn như bây giờ. Năm Tự Đức, nhà nho Nguyễn Văn Siêu đứng ra tu sửa lại đền, kiến trúc ngày nay còn lại chủ yếu là từ lần trùng tu lớn này!
Không gian bao quanh hồ còn có những di tích lịch sử độc đáo như tượng đài vua Lý Thái Tổ, đền Ngọc Sơn với cầu Thê Húc, Đài Nghiên, Tháp Bút, Đền Bà Kiệu, …và những công trình kién trúc hiện đại, mới được xây dựng hoặc tu tạo nhưng luôn đảm bảo kết hợp hài hòa với cảnh quan vốn có quanh hồ.
Các bạn có thể thấy, hàng ngày, khi qua lại bờ hồ, đi trên đường Đinh Tiên Hoàng, ở đoạn gần phố Hàng Khay, ai cũng thấy sừng sững một ngọn tháp. Đó là tháp Hòa Phong, di tích còn sót lại của chùa Báo Ân. Chùa được thành lập khoảng những năm 1840 -1842 ở bờ Đông Hồ Gươm, mặt trước quay ra sông Hồng, mặt sau dựa vào hồ. Chùa Báo Ân nằm trên khu đất gần 100 mẫu, gồm 180 gian với 36 nóc. Tới năm 1888, Pháp đã phá hủy chùa để xây nhà bưu điện. Chỉ còn tháp Hòa Phong phía sau chùa còn giữ lại, nay ở trên bờ hồ Hoàn Kiếm. Vì chùa có hào nước trồng sen bao quanh nên chùa còn có tên Liên Trì, có nghĩa là “Ao sen”.
Tháp Hòa Phong nằm trên phố Đinh Tiên Hoàng, quận Hoàn Kiếm trước cửa nhà Bưu điện Trung ương, bên bờ hồ Hoàn Kiếm. Đây là di tích cuối cùng của ngôi chùa Báo Ân do Nguyễn Đăng Giai Tổng đốc Hà Nội, kiêm chức Kinh lược sứ Bắc Kỳ đứng ra quyên tiền dựng năm 1842. Chùa Báo Ân làm trên nền lầu Ngũ Long cũ (Trịnh Giang cho xây vào năm 1740). Chùa còn có tên là chùa Liên Trì, do bốn mặt xung quanh có hào nước bao bọc, sen nở phủ kín mặt hào. Chùa cũng có tên là chùa Quan Thượng bởi chùa do Thượng thư Nguyễn Đăng Giai cho dựng lên, nhưng tên chính vẫn là chùa Báo Ân.Chùa Báo Ân đồ sộ, phải mất 4 năm mới xây dựng xong. Sau khi thực dân Pháp đánh chiếm Hà Nội (1883), chúng bắt tay ngay vào việc xây dựng đường phố, phố Đinh Tiên Hoàng là một trong những phố được mở đầu tiên. Năm 1882 chúng cho phá chùa Báo Ân để làm nhà Bưu điện và phủ Thống sứ, nhưng vẫn để lại một cửa chùa ở khoảng nhà Bưu điện bây giờ và một cái tháp ở sau chùa là tháp Hòa Phong hiện nay. Năm 1898 chúng phá bỏ nốt cửa chùa, và chỉ còn lại tháp. Tháp hình vuông, có tên là tháp Hòa Phong, với ý nói gió thuận bốn mùa, bởi tháp có 4 cửa nhìn ra các hướng. Chùa Báo Ân xưa được xây dựng với qui mô lớn trên một diện tích khoảng một trăm mẫu. Mặt trước của chùa trông ra sông Hồng, mặt sau chùa dựa vào hồ Hoàn Kiếm. Trên nền chùa dựng tới 36 ngôi nhà với 180 gian cùng nhiều hành lang, gác chuông, cầu tháp – Chùa được xây dựng trên nền đất hình bát giác (8 góc, 8 cạnh), có tường bao bọc xung quanh, có hào thả sen. Cây cối trong và xung quanh chùa xanh tốt, bóng rợp bốn mùa.Hai chữ Báo Ân, tên của chùa có ý nói về thuyết nhân quả báo ứng của đạo Phật. Những người làm việc thiện, nhân nghĩa có ân đức thì được trở về dương thế thác sinh làm người. Còn những kẻ sống gây nhiều tội ác thì bị trừng phạt, có các quỉ sứ đem đi để trị tội.
Chùa Báo Ân là một công trình xây dựng có tiếng ở Hà Nội vào thế kỷ XIX. Đã từng có thơ vịnh của người đương thời:
Gần xa nô nức tưng bừng,
Vào chùa Quan Thượng xem bằng động tiên.
Lầu chuông gác trống hai bên,
Trông ra chợ mới Tràng Tiền Kinh đô.
Khen ai khéo họa địa đồ,
Sau lưng Đồn Thủy, trước hồ Hoàn Gươm.
Phong quang cảnh trí trăm đường,
Trong xây chín giếng, ngoài tường lục lăng
Rõ mười cửa động tưngbừng,
Đền vàng tòa ngọc chất từng như nêm.
Có du khách đến thăm chùa vào năm 1876 đã ghi: “Cảnh chùa này thật đã nên tốt, vô cửa 2 bên có tháp cao, vào trong có hồ đi quanh co vòng theo chùa. Cầu bắc từ phía qua chùa cũng xây đá gạch hẳn hơi. Xung quanh bốn phía có nhà hành lang, chạy dài ra sau giáp nhau. Đằng sau chùa có đền tạc hình ông Nguyễn Đăng Giai ( trích chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1875) của ông Trương Vĩnh Ký).
Những lời ca ngợi của người đương thời chứng tỏ chùa Báo Ân thời đó là một danh thắng, một kiến trúc lớn ở Hà thành. Nay di tích duy nhất của chùa Báo ân còn lại là tháp Hòa Phong. Tháp xây theo hình vuông, có 3 tầng. Hai tầng trên nhỏ dần, trên đỉnh tháp có 4 mái thu nhọn dần tạo thành hình quả bầu tượng trưng cho bầu trời thu nhỏ. Hai mặt tháp đối nhau có 3 chữ “Tháp Báo Thiên” nghĩa là (Tháp trả ơn trời). Hai mặt khác có 3 chữ “Tháp Hòa Phong”. Tháp cao 6m cửa dưới đáy rộng 1,1m tầng hai rộng 1m, cao 1,2m xây gạch Bát Tràng không trát vữa bên ngoài. Tầng ba rộng 0,8m, cao 1m, chóp cao 0,8m. Tầng dưới có kiến trúc như một cái nhà vuông, mái bằng, to hẳn ra. Bốn mặt chính giữa có cửa vòm thông sang nhau, người đi qua lại được. Phía trên bốn góc tầng này xây 4 trụ vuông thấp. Trên đỉnh 4 trụ có đắp 4 con lân chầu nhưng nay chỉ còn 2 con. Ở mỗi mặt đều viết 3 chữ Hán: “Báo Phúc môn” (cửa báo phúc), “Báo Ân môn” (cửa báo ơn) “Báo Đức môn” (cửa báo đức) và “Báo nghĩa môn” (cửa báo nghĩa) thể hiện thuyết “Nhân Quả” của nhà Phật.
Phía dưới bưu điện Hà Nội ngày nay, các bạn sẽ nhìn thấy một không gian kiến trúc hiện đại đó là tượng đài Lý Thái Tổ. Tượng đài đặt tại vườn hoa Chí Linh, nhìn ra hồ Hoàn Kiếm, trung tâm thủ đô Hà Nội khánh thành ngày 7.10.2004 do nhà điêu khắc Vi Thị Hoa sáng tác. Công ti Trách nhiệm hữu hạn Mĩ nghệ Đoàn Kết tỉnh Nam Định thực hiện bằng đồng nguyên chất, đúc liền khối, nặng 32 tấn (tượng 12 tấn, bệ 20 tấn), cao 10,1 m (tượng cao 6,8 m, bệ cao 3,3 m). Đây là một công trình kiến trúc văn hoá đẹp; nhằm tôn vinh vị vua Lý Thái Tổ (974 – 1028), người khởi lập và tạo dựng nên mảnh đất ngàn năm văn hiến đồng thời là công trình chào mừng 50 năm giải phóng Thủ đô (10.10.1954 – 10.10.2004), tiến tới kỉ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội.
Tiếp đến, đối diện với cổng Đền Ngọc Sơn, các bạn sẽ thấy di tích Đền Bà Kiệu và tượng đài cảm tử. Hai di tích này đều nằm trên trục phố Đinh Tiên Hoàng, đối diện Đền Ngọc Sơn và được đặt cạnh nhau. Đền Bà Kiệu tên gọi chính là Thiên Tiên điện. Đền thờ ba vị nữ thần là Liễu Hạnh công chúa, đệ nhị ngọc nữ là Quỳnh Hoa và đệ tam ngọc nữ là Quế Nương. Theo tấm bia 1628 còn trong đền thì đền có tên là “Huyền Chân từ” tức đền Huyền Chân. Chân chứ không phải là Trân. Vì trước có người ngỡ là Huyền Trân và suy diễn là thờ công chúa Huyền Trân. “Huyền” là huyền diệu, “Chân” là chân không. Đây là từ ngữ gốc Đạo giáo. Cuối thời Cảnh Hưng, một vị quan ở Lễ phiên thuộc Phủ chúa Trịnh lấy vườn ao nhà mình cúng cho đền mở rộng phạm vi. Sau đền chuyển cho người ở trấn Hải Dương là Lê Trọng Hiển, Lê Trọng Sinh, Hoàng Thị Bo trông nom thờ cúng. Có thể bà Bo này còn có tên là Kiệu chăng? Vì vậy đền mới có tên là đền Bà Kiệu tức đền của bà đồng Kiệu. Ông Lê Trọng Sinh bỏ tiền ra xây thêm tam quan. Đến thời Tây Sơn đền lại được tu sửa và đúc quả chuông dồng. Đến năm Thành Thái thứ 2 thực dân Pháp mở đường, đền bị dỡ bỏ mất phần điện phía trước.
Cạnh đền Bà Kiệu là tượng đài cảm tử do cố nghệ sĩ Kim Giao sáng tác năm 1984. Tượng đài gồm anh vệ quốc quân và cô gái Hà thành trong trang phục truyền thống ở tư thế chiến đấu – thể hiện tinh thần bất khuất, ý chí dũng cảm của quân và dân thủ đô trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Nay tượng được xây mới dựa theo tác phẩm đoạt giải trong cuộc thi sáng tác mẫu tượng đài mới phát động giữa tháng 6 đến tháng 9 năm 2003, đặt tại vườn hoa Vạn Xuân.Tượng làm bằng đá xanh, cao 9,7 m, nặng trên 50 tấn, là công trình kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long.
Thưa các bạn, trải qua bao thăng trầm của lịch sử, ngày nay Hồ Gươm vẫn giữ được nét cổ kính, trang nghiêm vốn có. Tuy các công trình kiến trúc mới cũng đã được xây dựng xung quanh nhưng chúng rất hài hòa và càng làm tôn thêm vẻ đẹp của Hồ Gươm. Ngày nay, hồ còn có rất nhiều ý nghĩa to lớn với cuộc sống của người dân Hà Nội. Hồ điều hòa khí hậu, là nơi sinh hoạt văn hóa, lễ hội, giải trí của người dân, nơi lý tưởng cho các cụ già luyện tập sức khỏe mỗi khi sáng sớm, là cảm hứng cho ngành nghệ thuật: âm nhạc, hội họa… và hơn hết Hồ Gươm là niềm tự hào dân tộc, mãi khắc sâu trong trái tim mỗi người con đất Việt.
Tiếp theo, xin mời các bạn hãy cung tôi tham quan khu di tích tiếp theo: Đền Ngọc Sơn.
THEO DÕI PAGE: TÀI LIỆU HDV DL
st: Đăng ký thi Nghiệp vụ HDV & Điều hành du lịch: https://goo.gl/mK29tx

Cách phân biệt Chùa, đình, đền, miếu, nghè, điện, phủ, quán, am

Trong đời sống văn hóa tâm linh của người Việt Nam có rất nhiều nơi thờ cúng khác nhau như đình, đền, chùa, miếu, phủ, quán, am… nhưng không phải ai cũng hiểu được ý nghĩa của những địa điểm thờ cúng đó.
Hiện nay, có rất nhiều người đi chùa mà không hiểu được ý nghĩa của việc đi chùa, ở gần nhà có cái đình mà cũng không hiểu vì sao cái đình lại “mọc” lên ở đó…
Vì vậy, chúng tôi đã biên tập bài viết này để giúp bạn đọc dễ dàng phân biệt được các địa điểm thờ cúng khác nhau, hiểu được ý nghĩa của việc thờ cúng và những nhân vật được thờ cúng trong đó.
Chùa là gì?
Chùa là một công trình kiến trúc phục vụ mục đích tín ngưỡng. Chùa được xây dựng phổ biến ở các nước Đông Á và Đông Nam Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và thường là nơi thờ Phật. Tại nhiều nơi, chùa có nhiều điểm giống với chùa tháp của Ấn Độ, vốn là nơi cất giữ Xá-lị và chôn cất các vị đại sư, thường có nhiều tháp bao xung quanh.
Chùa là nơi tiêu biểu cho Chân như, được nhân cách hóa bằng hình tượng một đức Phật được thờ ngay giữa chùa. Nhiều chùa được thiết kế như một Man-đa-la, gồm một trục ở giữa với các vị Phật ở bốn phương. Cũng có nhiều chùa có nhiều tầng, đại diện cho Ba thế giới (tam giới), các cấp bậc tiêu biểu cho Thập địa của Bồ Tát. Có nhiều chùa được xây tám mặt đại diện cho Pháp luân hoặc Bát chính đạo.
Chùa còn là nơi tập trung của các sư, tăng, (hay ni nếu là chùa nữ) sinh hoạt, tu hành, và thuyết giảng đạo Phật. Tại nơi này, mọi người kể cả tín đồ hay người không theo đạo đều có thể đến thăm viếng, nghe giảng kinh hay thực hành các nghi lễ tôn giáo.
"Chùa chiền" theo Hán-Việt còn có nghĩa là "tự viện", là một nơi an trí tượng Phật và là chỗ cứ trú tu hành của các tăng ni. Ngày nay trong thực tế chùa được gọi bằng cả từ Hán-Việt phổ thông như "Tự", "Quán", "Am".
Đình là gì?
Trước kia theo tình hình chung của cả nước, đình của các làng mạc Việt Nam chỉ là quán để nghỉ. Năm 1231 Trần Nhân Tông xuống chiếu cho đắp tượng Phật ở đình quán. Năm 1491 nhà vua cho xây dựng Quảng Văn đình là nơi để dân chúng đánh trống kêu oan và nơi ban bố, giảng giải các chính sách của nhà nước phong kiến tại Thăng Long.
Ngôi đình làng với chức năng là nơi thờ thành hoàng và là nơi hội họp của dân chúng có lẽ bắt đầu vào thời Lê sơ và định hình vào thời nhà Mạc.[1] Có lẽ sự phát triển của Nho giáo vào cuối thế 15 đã cấy dần Thành hoàng vào đình làng. Nhưng hiện nay dấu vết sớm nhất của đình làng thì Thành hoàng chỉ gặp từ thế kỷ 16. Trước đây đình thường chỉ có 3 gian và 2 chái. Gian giữa không có sạp, trong gian thờ Thành hoàng. Cuối thế kỷ 17 từ gian giữa và kéo dài về sau gọi là chuôi vồ, tạo cho đình làng mang kiểu chữ Đinh. Cuối thế kỷ 17, nhất là thế kỷ 19, đình làng được bổ sung tòa tiền tế.
Thành hoàng là người có công với dân, với nước, lập làng, dựng ấp hay sáng lập nên một nghề (ông tổ của nghề). Dưới các triều vua thường có sắc phong cho Thành hoàng, vì hầu hết Thành hoàng đều có công với nước. Dân làng, hay phường hội đi lập nghiệp nơi khác tcũng xây miếu, đền thờ Thành hoàng quê gốc của mình tại nơi ở mới.
Đền là gì?
Đền là công trình kiến trúc được xây dựng để thờ cúng một vị Thánh hoặc những nhân vật lịch sử được tôn sùng như thần thánh. Ở Việt Nam, phổ biến nhất là các đền thờ được xây dựng để ghi nhớ công ơn của các anh hùng có công với đất nước hay công đức của một cá nhân với địa phương được dựng theo truyền thuyết dân gian.
Ở Việt Nam có nhiều nhân vật có thực trong lịch sử được xây dựng đền thờ ở rất nhiều nơi là các vị vua: Lý Nam Đế, Triệu Quang Phục, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành; các nhân vật lịch sử: Lý Quốc Sư, Lý Thường Kiệt, Tô Hiến Thành, Thánh Tam Giang, Trần Hưng Đạo và các vị thần thánh như Tản Viên, Cao Sơn, Quý Minh.
Các đền nổi tiếng có thể kể đến ở nước ta như Đền Hùng, đền Kiếp Bạc, đền Sóc, đền Trần… thờ các anh hùng dân tộc.
Đền Voi Phục, đền Bạch Mã, đền Kim Liên, đền Quán Thánh… thờ các vị thánh theo truyền thuyết dân gian.
Miếu là gì?
Miếu là một dạng di tích văn hóa trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam có quy mô nhỏ hơn đền. Đối tượng được thờ ở miếu rất đa dạng, thể hiện ở tên gọi của miếu – tên gọi theo đối tượng được thờ thường phiếm chỉ và tượng trưng.
Ví dụ: miếu Cô, miếu Cậu, miếu thờ thần núi gọi chung là miếu Sơn thần, miếu thờ thần nước gọi là miếu Hà Bá hoặc miếu Thủy thần. Miếu thờ thần đất gọi là miếu thổ thần hoặc thần Hậu thổ.
Miếu thường được xây trên gò cao, nơi sườn núi, bờ sông hoặc đầu làng, cuối làng, những nơi yên tĩnh để quỷ thần có thể an vị, không bị mọi sự ồn ào của đời sống dân sinh. Ở một số nơi, trong các ngày giỗ thần như ngày sinh, ngày hóa (nhân thần), ngày hiện hóa (thiên thần) làng mở tế lễ, mở hội, nghinh rước thần từ miếu về đình. Tế lễ xong, lại rước thần về miếu yên vị.
Miếu nhỏ còn được gọi là Miễu (cách gọi của người miền Nam)
Nghè là gì?
Một hình thức của đền miếu, thờ thần thánh. Đây là kiến trúc thường có mối quan hệ chặt chẽ với một di tích trung tâm nào đó. Nghè có khi thờ thành hoàng làng ở làng nhỏ, được tách ra từ làng gốc như Nghè Hải Triều (Cẩm Giàng – Hải Dương).
Nghè cũng có thể là một ngôi đền nhỏ của một thần trong xã nhằm thích ứng với dân sở tại để tiện việc sinh hoạt tâm linh khi ngôi đền chính khó đáp ứng được nhu cầu thờ cúng thường nhật, như Nghè ở Trường Yên là một kiến trúc phụ của đền vua Đinh.
Hiện ngôi nghè cổ nhất được tìm thấy từ thế kỷ XVII.
Điện thờ là gì?
Điện là sảnh đường cao lớn, thường chỉ chỗ Vua Chúa ở, chỗ Thần Thánh ngự. Như vậy Điện thờ là một hình thức của Đền, là nơi thờ Thánh trong tín ngưỡng Tam tứ phủ.
Tuy vậy quy mô của Điện nhỏ hơn Đền và Phủ, lớn hơn so với Miếu Thờ. Điện thông thường thờ Phật, thờ Mẫu, Công đồng Tam tứ phủ, Trần Triều và các vị thần nổi tiếng khác.
Điện có thể của cộng đồng hoặc tư nhân. Trên bàn thờ thường có ngai, bài vị, khám, tượng chư vị thánh thần và các đồ thờ khác: tam sơn, bát hương, cây nến, đài, lọ hoa, vàng mã,…
Phủ là gì?
Phủ là đặc trưng của tín ngưỡng thờ Mẫu (tín ngưỡng bản địa của người Việt Nam). Một số nơi thờ tự (ở Thanh Hóa) gọi đền là phủ.
Có thể hiểu Phủ là nơi thờ tự Thánh Mẫu khá sầm uất, mang tính chất trung tâm của cả một vùng lớn, vượt ra ngoài phạm vi địa phương, thu hút tín đồ khắp nơi đến hành hương (tương tự như chốn Tổ của sơn môn đạo Phật).
Ngôi phủ sớm nhất còn lại hiện biết là điện thờ các thần vũ nhân ở chùa Bút Tháp, có niên đại vào giữa thế kỷ XVII.
Quán là gì?
Quán là một dạng đền gắn với đạo Lão (Đạo giáo). Vào các thế kỷ XI và XIV đạo Lão ở Việt nặng xu hướng thần tiên nên điện thờ thực chất giống như một đền thờ thần thánh.
Sang tới thế kỷ XVI và XVII, sự khủng hoảng của Nho giáo đã đẩy một số nhà Nho và một bộ phận dân chúng quan tâm nhiều tới Lão giáo, và điện thờ đạo Lão có nhiều sự phát triển mới, với việc thờ cúng các thần linh cơ bản theo Trung Hoa.
Bích câu đạo quán
Bích câu đạo quán
Đó là Tam thanh (Nguyên Thủy Thiên Tôn, Linh Bảo Đạo Quân, Thái Thượng Lão Quân), Ngũ Nhạc mà nổi lên với Đông Phương Sóc và Tây Vương Mẫu, rồi Thánh Phụ, Thánh Mẫu. Cửu Diệu Tinh Quân (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, Mặt Trời, Mặt Trăng, Hồ phủ, Kế đô) đồng thời trên chính điện cũng có cả tượng của Hoàng Quân giáo chủ (Ngọc Hoàng).
Có thể kể tới các quán điển hình như: Hưng Thánh Quán, Lâm Dương Quán, Hội Linh Quán, Linh Tiên Quán… đều ở Hà Tây cũ (nay là Hà Nội). “Thăng Long Tứ quán” bao gồm: Chân Vũ quán (tức đền Quán Thánh ở phố Quán Thánh); Huyền Thiên cổ quán (nay là chùa Quán Huyền Thiên ở phố Hàng Khoai); Đồng Thiên quán (nay là chùa Kim Cổ ở phố Đường Thành); Đế Thích quán (nay là chùa Vua ở phố Thịnh Yên).
Am là gì?
Hiện được coi là một kiến trúc nhỏ thờ Phật. Gốc của Am từ Trung Quốc, được mô tả như ngôi nhà nhỏ, lợp lá, dùng làm nơi ở của con cái chịu tang cha mẹ, về sau đổi kết cấu với mái tròn, lợp lá, làm nơi ở và nơi đọc sách của văn nhân. Từ đời Đường, Am là nơi tu hành và thờ Phật của ni cô đặt trong vườn tư gia.
Với người Việt, am là nơi thờ Phật (Hương Hải am tức Chùa Thầy, Thọ Am tức Chùa Đậu – Hà Tây…) cũng có khi am là ngôi miếu nhỏ thờ thần linh của xóm làng – Vào thế kỷ XV (thời Lê sơ) là nơi ở tĩnh mịch để đọc sách làm thơ của văn nhân.
Miếu thờ thần linh ở các làng hoặc miếu cô hồn ở bãi tha ma cũng gọi là am.

Quy Trình Hướng Dẫn Tour Mầm Non

Xin chia sẻ với các bạn Quy trình đi tour mầm non, ACE nào có kinh nghiệm thì bổ sung thêm dùm mình nhóe! Cám ơn
Yêu cầu:
- Phải thuộc và hát được các bài hát: Cháu lên Ba, Trường Mầm Non, Cô và Mẹ, Tập Đếm, Hai Con Thằn Lằn Con, Bắc Kim Thang...
- Phải Thuộc các câu chuyện: Cô pé quàng khăn đỏ,chuyện kể về ông già Noel, các câu chuyện ngụ ngôn của nhà văn Lev Tolstoi (Nga)
- Tổ chức được các trò chơi:con thỏ ăn cỏ, bánh lăn, bà ba đi chợ, con muỗi...
- Đi ngược (quay mặt lại với pé)
- Đi chậm và nói chậm
- Có lòng yêu thương trẻ, cẩn thận, chu đáo
Quy trình chia làm 05 giai đoạn
- Giai đoạn 1: Đến Công Ty
Điểm danh HDV, bàn giao chương trình, bàn giao lớp và số xe, tên trường và địa chỉ của trường và một số quy định khác như: chụp hình mấy tấm tại khu vực nào, uống nước tại khu vực nào... thay đồng phục (thường là áo thun)
- Giai đoạn 2: Đến trường và nhận lớp, dẫn pé ra xe
- Khi đến trường, gởi xe, nhận nón (nếu có) làm wen với HDV đi cùng xe với mình (vì mỗi xe 2 lớp đi chung từ 2 - 3 hướng dẫn), khoảng 7h00 thì đi vào nhận lớp
- Vào lớp làm quen với giáo viên, điểm danh số lượng pé, cho pé chơi 1 số trò chơi, dặn dò, cho pé đi vệ sinh, đội nón, cho pé hô khẩu hiệu (pé đâu pé đâu, chú đâu chú đâu) chơi trò chơi đèn xanh, đèn đỏ và dẫn pé ra sân trường. 
- Nhập chung với lớp và HDV đi chung xe, theo sự điều động của Điều Hành cho pé lên xe, khi dẫn pé ra cửa xe, mời cô giáo lên xe trước để sắp chỗ cho các pé (1 băng ghế xe 45 chỗ ngồi 3 pé) lớp nhỏ (cơm thường, mầm chồi) ngồi phía trước, lớp lá ngồi phía sau cùng. HDV bế các pé lên xe, vừa pé vừa điểm danh.
- Giai Đoạn 3: Trên xe
- HDV cho các pé ngồi ổn định, cho xe khởi hành, chào đoàn, sau đó tổ chức trò chơi và cho các pé ca hát, kể chuyện cho các pé, chỉ các sự vật 2 bên đường, liệt kê các con vật... 
- Khi gần đến khu du lịch thì dặn dò các pé đi theo cô và các chú hướng dẫn, ko đc đi theo người lạ, ko đc chạy nhảy và đi trước chú HDV, không chọc phá các con thú...
- Giai Đoạn 4: Xuống xe và đi tham quan
Đến KDL, HDV cho các pé ngồi phía trước xuống xe trước, mời Giáo Viên xuống xe, bế các pé xuống xe và tập trung tại chỗ cô giá đang đứng. Điểm danh và cho các pé di chuyển theo đội hình: Hướng dẫn đi phía trước, 1 cô giáo đi phía sau và 1 cô giáo đi phía bên hông đoàn.
Đến cổng soát vé, HDV nhận vé hoặc phiếu ghi số lượng từ điều hành (ghi xong đưa cho nhân viên soát vé), cho cô giáo vào cổng trước sau đó cho các pé đi theo cô, HDV đứng ngay cổng điểm danh cùng nhân viên soát vé để xác nhận số lượng. 
Dẫn pé đi theo chương trình đã bàn giao, cho pé chụp hình, uống nước, nghỉ ngơi và đi vệ sinh, vừa đi vừa tổ chức trò chơi và cho pé hát hò...không để cho pé đi thành hàng quá dài, luôn quan sát cử động của các pé, nếu pé đi quá dài thì cho đèn đỏ để các pé dừng lại.
Trong quá trình di chuyển không được đi song song với đoàn khác, không đi cắt ngang đoàn khác, không được chen vào chỗ mà đoàn khách đang đứng.
Nếu đang dẫn pé có HDV của đoàn khác phan ngang hoặc đâm thẳng vào đoàn, các bạn hô lớn cho các pé ngồi xuống (bít cửa).
khi đến chỗ chụp hình phải sắp hàng cho pé cởi bỏ mũ (để khi chụp hình nhìn thấy mặt rõ hơn)
Khi đến nhà vệ sinh: Cho 1 cô giữ pé, HDV dắt các bạn nam, 1 cô dắt các bạn nữ đi vệ sinh (nhớ điểm danh số bạn nam đi vệ sinh)
Khi đến khu vực trò chơi: cho pé cởi nón để vào 1 chỗ, dặn dò các pé cẩn thận, cho các cô đi theo pé, HDV tuyệt đối không được bỏ đoàn.
Nếu chương trình có đi xe lửa hoặc xem xiếc, xem múa rối nước thì phải dẫn pé đến đúng giờ.
Khi đi tham quan hoặc chơi trò chơi xong HDV cho pé uống nước, đi vệ sinh, điểm danh rồi liên hệ với HDV đi chung xe sau đó dẫn pé ra xe, điểm danh và bế pé lên xe (cho giáo viên lên xe trước).
Khi lên xe cho các pé nghỉ ngơi, HDV có thể kể chuyện cho pé.
- Giai Đoạn 5: Về tới trường
Về gần đến trường, HDV đánh thức các pé (nếu pé đang ngủ) chào tạm biệt cô và các pé sau đó bế các pé xuống xe, dẫn pé về lớp. Ký xác nhận.
Đợi và hỗ trợ các HDV của các xe khác trong việc đưa pé vào trường, thay đồng phục 
Nộp phiếu xác nhận cho điều hành, nhận công tác phí (nếu có).
Trên đây là quy trình đi tour mầm non, không phải HDV nào đi cũng được mà đòi hỏi các bạn phải có lòng yêu trẻ, sự cẩn thận và khiếu khôi hài. Nếu các bạn không làm được điều đó thì đừng nhận tour mầm non nhóe, không thì đổ nợ ra đó.